HomeChăm sóc trẻ sơ sinh

Tìm hiểu về vắcxin – 14 loại vắc xin cần tiêm phòng cho trẻ sơ sinh

Like Tweet Pin it Share Share Email

Khoa học ngày càng tiến bộ và con người càng ngày càng chế tạo ra được nhiều loại vắc xin phòng bệnh cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Có những bệnh mà hàng chục năm về trước nền y học phải bất lực để lại nhiều hậu quả nặng nề như bại liệt, uốn ván, viêm màng não mủ nay đã hoàn toàn được loại trừ nhờ vào vắc xin. Sau đây là kiến thức về vắc xin mà các bậc cha mẹ nên biết để giúp trẻ được tiêm phòng 1 cách đầy đủ và đúng cách nhất.

Hiện nay ngoài 6 loại vắc-xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đó là: chủng ngừa lao, uốn ván, ho gà, bạch hầu, bại liệt và sởi thì đã có thêm các loại vaccine khác như: vaccine viêm gan B, viêm não Nhật Bản B, vaccine phòng nhiễm Hemophilus influenza (HIB), não mô cầu, quai bị, rubella, dại, tiêu chảy do Rotavirus, thủy đậu góp phần hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi và tăng cường miễn dịch chủ động cho trẻ em ở nước ta.

14 loại vắc-xin mà cha mẹ bắt buộc phải tiêm cho trẻ

1. Vắc-xin ngừa bệnh lao

Tiêm vắc-xin BCG cho trẻ nhỏ có thể phòng được lao màng não và các thể lao nặng khác ở trẻ em dưới 5 tuổi. Tất cả trẻ em dưới 12 tháng tuổi đều cần phải được tiêm phòng bệnh lao, càng sớm càng tốt sau khi sinh.

Những phản ứng hiếm gặp gồm: Sưng hoặc áp xe tại chỗ tiêm. Sưng hạch có thể gây mủ, xảy ra trong vòng 2- 6 tháng sau khi tiêm, tại cùng một bên người với chỗ tiêm chủng. Sưng hạch hoặc áp xe thường xảy ra do tiêm không đảm bảo vô trùng hoặc tiêm quá nhiều vắc-xin, nhưng phổ biến nhất là do thay vì tiêm trong da thì lại tiêm dưới da. Hoãn tiêm đối với trẻ: đẻ non cân nặng dưới 2,5kg, trẻ đang bị sốt, bị bệnh truyền nhiễm cấp tính và bị viêm da có mủ.

Có rất ít phản ứng nặng sau tiêm BCG. Có khoảng 1/1.000.000 trường hợp bị nhiễm lao sau tiêm BCG, hay xảy ra ở những trường hợp nhiễm HIV hoặc những trường hợp thiếu hụt miễn dịch nặng.

2. Vắc-xin ngừa thủy đậu

Bệnh thủy đậu, là loại bệnh phát ban rất dễ lây ở trẻ do virus thủy đậu gây ra. Bệnh thủy đậu có thể gây ra nhiễm trùng và các biến chứng nguy hiểm khác. Thường trẻ bị thủy đậu có thể dẫn đến bị bệnh zona, một bệnh phát ban phồng rộp rất đau đớn.

Loại vắc-xin phòng bệnh này được tiêm chủng cho trẻ tốt nhất ở độ tuổi 12 đến 15 tháng và nhắc lại vào độ tuổi giữa 4 và 6 tuổi.

Đối với trẻ nhạy cảm, triệu chứng thường thấy khi tiêm vắc-xin là sốt hay phát ban nhẹ.

3. Vắc-xin phòng ngừa virus Rota (RV)

Thuốc chủng ngừa vi rút rota (RV); (tên thuốc RotaTeq, Rotarix) – một loại virut gây bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ được trao cho trẻ em ở 2 và 4 tháng tuổi (RotaTeq được tiêm cho trẻ vào lúc 6 tháng.) Thuốc chủng này được sản xuất ở dạng lỏng và là dạng thuốc uống. Nó có thể làm cho trẻ khó chịu hơn một chút và cũng có thể gây tiêu chảy nhẹ hoặc nôn mửa.

4. Vắc-xin viêm gan A

Trẻ em có thể bắt viêm gan A từ đồ ăn hay thức uống hoặc khi ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc đưa các vật nhiễm khuẩn vào miệng. Đây là bệnh do virus gây tổn hại đến gan với một số triệu chứng gồm sốt, mệt mỏi, vàng da, và chán ăn.

Trẻ em tuổi từ 12 đến 23 tháng tuổi thường được tiêm hai liều thuốc chủng ngừa viêm gan A, với một khoảng thời gian cách nhau tối thiểu là sáu tháng giữa các mũi tiêm.

Đau nơi tiêm, đau đầu, và chán ăn là những tác dụng phụ thường gặp nhất của loại vắc-xin này.

5. Human papillomavirus (HPV) – Vắc-xin ngừa ung thư cổ tử cung

Human papillomavirus (HPV) chủng ngừa (tên thuốc Gardasil, Cervarix) được đưa ra tiêm cho trẻ ba liều trong thời gian 6 tháng, và được chấp thuận cho các em gái ở độ tuổi từ 9 đến 26 là tốt nhất.

Loại vắc-xin này bảo vệ trẻ chống lại hai loại vi rút lây truyền qua đường tình dục nguyên nhân phổ biến gây bệnh ung thư cổ tử cung.

6. Vắc-xin phòng ngừa viêm màng não (MCV4)

vắc-xin bảo vệ trẻ khỏi vi khuẩn viêm màng não – bênh phổ biến có thể lây nhiễm ở các màng quanh não và tủy sống.

MCV4 có tác dụng tốt nhất khi trẻ được tiêm ở độ tuổi 11 hoặc 12 tuổi. Khi tiêm vắc-xin này, tác dụng phụ thường thấy là cảm giác đau nhức ở chỗ tiêm.

7. Vắc-xin 5 trong 1

Đây là loại vắc–xin đã được WHO tiền kiểm định với chỉ một mũi tiêm nhưng phòng được tất cả các bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và viêm màng não mủ (Hib)), thay cho việc phải sử dụng nhiều mũi tiêm ngừa như hiện nay trong chương trình tiêm chủng mở rộng.

Với vắc-xin 5 trong 1, phản ứng thường gặp là phản ứng tại chỗ tiêm, khoảng 10% có sốt hơn 38 độ C. Riêng với bệnh do Hib, các nghiên cứu cũng cho thấy nếu trẻ được tiêm đủ mũi vắc-xin Hib sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh do Hib ở trẻ nhỏ tới trên 90%.

vắc-xin này được tiêm mỗi tháng một mũi cho trẻ kể từ khi trẻ được 2-4 tháng tuổi, mũi thứ tư nhắc lại khi trẻ khoảng 18 tháng tuổi.

vắc xin tiêm phòng cho trẻ 1

8. Vắc-xin MMR (sởi, quai bị, rubella)

vắc-xin MMR giúp trẻ phòng ngừa bệnh sởi (gây sốt cao và phát ban ở trẻ nhỏ); quai bị (gây sưng mặt, sưng tuyến nước bọt, sưng ‘cậu nhỏ’ của bé trai); rubella (còn gọi là bệnh sởi Đức) (có thể gây ra dị tật bẩm sinh cho trẻ).

Bạn nên tiêm cho trẻ liều vắc-xin MMR đầu tiên khi trẻ 12 – 15 tháng tuổi và tiêm liều thứ hai khi trẻ 4 – 6 tuổi.

Đôi khi, vắc-xin MMR có thể được tiêm kết hợp cùng vắc-xin ngừa thủy đậu.

9. Vacxin phòng tránh bại liệt (IPV)

Bại liệt có thể gây tê liệt và thậm chí tử vong cho trẻ. Thuốc chủng ngừa bệnh bại liệt là một thành côngbởi vì vắc-xin loại trừ hoàn toàn các loại vi rút gây bệnh bại liệt ở trẻ. Trẻ em nên được tiêm IPV ở độ tuổi 2 tháng, 4 tháng, 6 đến 18 tháng tuổi và sau đó tiêm nhắc lại một lần nữa trong độ tuổi từ 4 đến 6 tuổi.

10. Vacxin ngừa viêm gan B

Trẻ sơ sinh cần phải được tiêm ngay sau khi sinh 24h, và nhận được một liều lượng tương tự từ khi được 1 đến 2 tháng tuổi và một phần ba liều tương tự vào lúc 6 đến 18 tháng tuổi. Thuốc chủng ngừa này bảo vệ trẻ chống lại virus viêm gan B – virus lây lan qua tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể (bàn chải đánh răng chia sẻ và một vài dụng cụ, đồ dùng cá nhân).

Triệu chứng khi trẻ tiêm thuốc thường gặp phải khi tiêm loại thuốc này là đau ở vết tiêm, hay sốt nhẹ.

11. Vacxin DTaP

Thuốc chủng ngừa DTaP bảo vệ trẻ chống lại bệnh bạch hầu (một loại vi khuẩn có thể tạo khiến cổ họng của trẻ biến thành màu xám hoặc đen), bệnh uốn ván (một bệnh nhiễm trùng có thể gây co thắt cơ bắp rất mạnh khiến trẻ có thể phá vỡ xương), và ho gà (một căn bệnh rất dễ lây gây ra nghiêm trọng , không thể kiểm soát ho, được biết đến như ho gà).

Năm liều vắc-xin cho trẻ em tại các độ tuổi 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 15 đến 18 tháng, và 4 đến 6 tuổi. (Và tiêm nhắc lại ở độ tuổi 11 hoặc 12 và sau đó cứ mỗi 10 năm.)

12. Vắc xin Haemophilus cúm B (Hib)

Haemophilus cúm B là loại vi khuẩn gây viêm màng não biểu hiện mức viêm bao quanh não và tủy sống, là đặc biệt nguy hiểm cho trẻ em dưới 5 tuổi.

Vắc-xin Hib được khuyến khích tiêm cho trẻ trong độ tuổi 2, 4, 6, và 12 đến 15 tháng tuổi. Sốt, sưng và tấy đỏ tại nơi tiêm là tác dụng phụ tthường gặp khi trẻ tiêm loại vắc xin này.

13. Vacxin ngăn ngừa bệnh cúm

Mỗi năm, tiêm chủng phòng ngừa bệnh cúm cho trẻ nên được bắt đầu vào mùa thu, khi trẻ được 6 tháng tuổi hoặc hơn.

Trẻ có thể bị đau nhức, sưng tấy ở chỗ tiêm, sốt nhẹ… khi tiêm vacxin phòng ngừa cúm.

Mẹo nhỏ: Nếu con bạn bị dị ứng trứng, bạn không nên tiêm vacxin phòng cúm cho bé vì bé có thể sẽ dị ứng với vacxin này.

14. Phế cầu khuẩn liên hợp (PCV)

Loại vacxin này được biết đến với tên gọi PCV 13 ( tên thường gọi là Prevnar 13). Vacxin bảo vệ trẻ chống lại virus gây viêm màng não, viêm phổi, nhiễm trùng tai, nhiễm trùng máu… những virus có thể dẫn đến tử vong cho trẻ nhỏ.

Với vacxin này, có tổng cộng 4 mũi tiêm khi trẻ 2 tháng tuổi, 4 tháng tuổi, 6 tháng tuổi và 12 – 15 tháng tuổi.

Tác dụng phụ sau khi tiêm thường gặp ở trẻ là buồn ngủ, tấy sưng ở chỗ tiêm, sốt nhẹ hoặc trẻ cau có, khó chịu.

Lịch tiêm chủng một số loại vaccine cho trẻ

– Tiêm càng sớm càng tốt từ sơ sinh: phòng bệnh lao (BCG), viêm gan B (Hepatitis B) mũi 1.

– Tiêm phòng bệnh viêm gan B, mũi 2 khi trẻ được 1 tháng tuổi và mũi 3 khi trẻ 6 tháng tuổi (nhắc lại sau 5 năm).

– Tiêm phòng mũi 1 cho trẻ 2 tháng tuổi đối với các bệnh sau: bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt (Diphtheria, pertussis, tetanus, polio) và viêm màng não mủ trực khuẩn H.influenza týp b. Tiêm mũi 2 cho trẻ ở 3 tháng tuổi, tiêm mũi 3 cho trẻ ở 4 tháng tuổi, tiêm mũi 4 cho trẻ ở 16 tháng tuổi để phòng bệnh.

– Khi trẻ được 1 tuổi, tiêm 1 mũi vacxin phối hợp sởi, quai bị, rubella (MMR), 4-6 năm sau tiêm nhắc lại.

– Riêng với bệnh thủy đậu (Varicella) khi trẻ được 1tuổi tiêm 1 mũi, nếu trẻ trên 12 tuổi thì tiêm 2 mũi (cách nhau 6 – 8 tuần).

– Trẻ trên 1 tuổi, tiêm phòng bệnh viêm não Nhật Bản B (Japanese B encephalitis) cho trẻ với 3 mũi: 2 mũi đầu cách nhau 1-2 tuần và mũi 3 sau 1 năm.

– viêm gan A (Hepatitis A) bằng Avaxim hay Epaxal khi trẻ được 1 tuổi ( tiêm 2 mũi cách nhau 6 tháng tới 1 năm).

– Viêm màng não do não mô cầu (vacxin A+C meningoencephalitis) khi trẻ được 2 tuổi và cứ 3 năm tiêm nhắc lại 1 lần hoặc theo chỉ định khi có dịch.

– Khi trẻ được 2 tuổi tiêm 1 mũi viêm phổi, viêm màng não mủ.. do phế cầu khuẩn bằng vacxin Pneumo 23 (cứ 5 năm nhắc lại 1 lần).

– khi trẻ được 2 tuổi tiêm 1 mũi thương hàn (Typhoid) bằng vacxin Typhim Vi (cứ 3 năm nhắc lại 1 lần).

– Từ 6 tháng tuổi đến lớn tiêm vacxin Cúm bằng Vaxigrip được tiêm mỗi năm, đặc biệt những người có nguy cơ mắc các biến chứng của bệnh cúm.

vắc xin tiêm phòng cho trẻ 2

Tìm hiểu về vắc-xin tiêm phòng

Vắc-xin là hỗn dịch kháng nguyên để gây miễn dịch chủ động, thường là các vi khuẩn, vurus sống giảm độc lực không có khả năng gây bệnh hoặc là các vi khuẩn bất hoạt các thành phần của vi khuẩn, virus, các độc tố đã giảm độc lực, các kháng nguyên protein đặc hiệu được tinh khiết, ngoài ra còn có các chất phụ gia giúp tăng hoạt tính của kháng nguyên và thuận tiện cho việc bảo quản.

Nguyên lý sử dụng vắc-xin:

Đưa vào cơ thể kháng nguyên có nguồn gốc từ vi sinh vật hoặc vi sinh vật có cấu trúc kháng nguyên giống vi sinh vật gây bệnh, đã được bào chế đảm bảo độ an toàn cần thiết, làm cho cơ thể tự tạo ra tình trạng miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh.

Các loại vắc-xin

– Vắc-xin sống, giảm hoạt tính: sởi, quai bị, rubella, bại liệt (Sabin).

– Vắc-xin chết, bất hoạt: tả, cúm, viêm gan A, viêm não Nhật Bản, bại liệt (Salk), dại.

– Vắc-xin là độc tố đã được biến đổi: bạch hầu, uốn ván.

– Subunit vaccin: viêm gan B, ho gà, viêm phổi do S. pneumonia.

– Vaccin liên hợp (Conjugate vaccin): Hib (Haemophilus influenza tuyp b)

Chú ý có một số loại vắc-xin phối hợp như:

– Phòng 6 bệnh trong 1 mũi: bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B, bệnh do Hib: 3 mũi tiêm dưới 6 tháng, mũi 4 nhắc lại lúc 18 tháng.

– Phòng 5 bệnh trong 1 mũi: bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, Hib ( pentaxim).

– Phòng 4 bệnh trong 1 mũi: bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt( Tetraxim).

– Phòng 3 bệnh trong 1 mũi: sởi, quai bị, rubellạ( priorix, MMR); bạch hầu, uốn ván, ho gà ( DTC).

Tầm quan trọng của việc tiêm nhắc các loại vắc-xin cho trẻ

Đưa trẻ đi tiêm ngừa đầy đủ, đúng lịch các loại vắc-xin phù hợp theo lứa tuổi sẽ tạo cho cơ thể trẻ một sức đề kháng tốt hơn để ngăn ngừa những tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên, để việc phòng bệnh đạt được hiệu quả tối ưu, phụ huynh cần đưa trẻ đi tiêm bổ sung hoặc tiêm nhắc các mũi vắc-xin có chỉ định tiêm nhắc theo khuyến cáo của chương trình tiêm chủng mở rộng dành cho trẻ em.

Vì sao phải tiêm nhắc vắc-xin cho trẻ?

Theo nhận định của Hiệp hội Nhi khoa Hoa Kỳ, đợt tiêm ngừa cơ bản là đợt tiêm ngừa đầu tiên cho trẻ một loại vắc-xin có khả năng phòng ngừa một hoặc nhiều bệnh lý trong thời kỳ thơ ấu. Theo thời gian, lượng kháng thể trong cơ thể sẽ giảm dần và có khi thấp dưới ngưỡng bảo vệ. Liều vắc-xin nhắc lại sẽ giúp gợi lại trí nhớ của hệ miễn dịch để tái sản xuất lượng kháng thể mà trước đó đã được tạo ra sau đợt chủng ngừa cơ bản đầu tiên cho trẻ.

Những liều vắc-xin tiêm nhắc sẽ giúp cơ thể người được tiêm chủng đạt mức bảo vệ gần như tuyệt đối 100%, một số đối tượng được tiêm vắc-xin nhưng chưa được bảo vệ hoặc mức bảo vệ chưa cao khiến người đã được tiêm chủng vẫn có khả năng bị nhiễm bệnh. Việc tiêm nhắc các loại vắc-xin được khuyến cáo sẽ góp phần nâng cao thành quả của chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em trong việc nỗ lực làm giảm đáng kể bệnh tật nguy hiểm ở trẻ, đảm bảo sự bảo vệ đặc hiệu và lâu bền trong cuộc chiến chống lại những tác nhân gây bệnh nguy hiểm cho trẻ em.

Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra khuyến cáo việc tiêm bổ sung hoặc tiêm nhắc lại vắc-xin để tăng hiệu quả phòng ngừa một số bệnh, nhưng mức độ áp dụng vào chương trình tiêm chủng quốc gia thì tùy theo nguồn lực đặc thù của mỗi vùng, miền. Đặc biệt, việc áp dụng chương trình tiêm nhắc lại các vắc-xin cho trẻ em và cho cả những người đã trưởng thành là quyết định đúng đắn, giúp khống chế, đẩy lùi và thanh toán các bệnh nguy hiểm.

vắc xin tiêm phòng cho trẻ 3

Các loại vắc-xin cần tiêm nhắc cho trẻ

Để giúp cơ thể tiếp tục được bảo vệ một cách hiệu quả, cần tiêm các mũi vắc-xin nhắc lại để nâng cao hiệu giá kháng thể. Việc tiêm các mũi nhắc lại chỉ áp dụng với các loại vắc-xin tạo được trí nhớ miễn dịch qua các mũi tiêm trước đó (thông thường là loại vắc-xin bất hoạt còn gọi là vắc xin chết). Lịch tiêm nhắc các loại vắc-xin được khuyến cáo áp dụng như sau:

– Vắc-xin DTC – ngừa bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván: trẻ được tiêm nhắc lúc 18 tháng tuổi. Không nên tiêm nhắc trước lịch quy định. Nếu trễ lịch tiêm nhắc có thể tiêm muộn hơn nhưng không nên để quá 3 tuổi.

– Vắc-xin bại liệt uống: có thể cho trẻ dưới 5 tuổi uống 2 liều bổ sung cách nhau 1 tháng để nâng cao khả năng bảo vệ của cơ thể.

– Vắc-xin phòng ngừa nhiễm khuẩn do Hib: nên tiêm nhắc lúc trẻ được 18 tháng tuổi.

– Vắc-xin viêm não Nhật Bản: cần nhắc mũi 3 một năm sau mũi 2. Sau đó 3 – 5 năm nên tiêm nhắc.

– Vắc-xin sởi: cần tiêm nhắc cho trẻ lúc 18 tháng tuổi bằng vắc-xin sởi đơn giá hoặc vắc-xin phối hợp 3 trong 1 ngừa bệnh Sởi – Quai bị – Rubella (vắc-xin MMR).

– Vắc-xin cúm: được tiêm nhắc hằng năm trước mùa dịch, đặc biệt là cho các đối tượng nguy cơ như trẻ em, người cao tuổi, người có bệnh tim mạch, huyết áp, đái tháo đường, hen suyễn…

– Vắc-xin tả uống: nên dùng hằng năm tại các vùng thường xuyên xảy ra dịch cho các đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm cao.

– Vắc-xin thương hàn: tiêm nhắc lại sau 2 – 3 năm tại những vùng lưu hành nặng hoặc có dịch, đặc biệt cho đối tượng trẻ em và người cao tuổi.

– Vắc-xin phế cầu: tiêm nhắc lại vào năm thứ 3 sau mũi tiêm thứ nhất.

– Vắc-xin não mô cầu: tiêm nhắc vào năm thứ 3 sau mũi tiêm thứ nhất.

– Vắc-xin dại: với các đối tượng nguy cơ cao như người làm nghề giết mổ gia súc nên tiêm phòng và tiêm nhắc lại song nói chung vắc-xin này chủ yếu dùng để điều trị dự phòng khi bị phơi nhiễm.

Những lưu ý đối với trẻ “bị trễ lịch tiêm chủng”

Tiêm nhắc hoặc tiêm bổ sung các liều vắc-xin cơ bản giúp trẻ phòng tránh những bệnh lý nguy hiểm có thể gây hại cho trẻ một cách hoàn hảo nhất thông qua trí nhớ miễn dịch khi trẻ được tiêm ngừa bằng các loại vắc-xin (thuốc chủng) tương thích.

Với các liều vắc-xin tiêm nhắc hoặc tiêm bổ sung về cơ bản tính an toàn không khác biệt với các liều tiêm trước đó, quan trọng hơn các liều tiêm nhắc hoặc tiêm bổ sung còn giúp loại trừ những cơ địa nghi ngờ bị mẫn cảm được phát hiện ở các liều gây miễn dịch cơ bản trước đó giúp việc tiêm chủng cho trẻ an toàn hơn.

Thực tế cho thấy lịch tiêm các mũi vắc-xin nhắc lại cho trẻ thường khá lâu có khi kéo dài từ 5 – 8 năm sau, điều này khó tránh khỏi việc phụ huynh bỏ quên lịch tiêm nhắc cho trẻ theo hẹn hoặc trong tình hình khan kiếm vắc-xin phổ biến hiện nay đã làm cho lịch tiêm các mũi cơ bản cho trẻ bị gián đoạn làm cho không ít các bậc cha, mẹ hoang mang lo lắng “việc tiêm vắc-xin trễ lịch hẹn” có làm mất hiệu quả tác dụng của thuốc chủng ngừa. Những lưu ý quan trọng sau đây sẽ giúp quý phụ huynh giải tỏa những băn khoăn về việc tiêm nhắc và tiêm vắc xin bổ sung cho trẻ:

– Kháng thể (chất bảo vệ) được thụ hưởng sau khi tiêm các loại vắc-xin sẽ giảm dần theo thời gian, đôi khi biến mất, nhưng trí nhớ miễn dịch vẫn còn duy trì.

– Hầu hết các loại vắc-xin đều sinh ra trí nhớ miễn dịch và tồn tại rất lâu. Nhờ trí nhớ miễn dịch nên hệ thống miễn dịch đáp ứng rất nhanh khi tiêm vắc-xin liều nhắc hoặc liều bổ sung, hệ miễn dịch của cơ thể sẽ tạo ra lượng kháng thể đầy đủ giúp bảo vệ tối ưu cho trẻ.

– Về mặt khoa học, tăng khoảng cách giữa các liều vắc-xin trong loạt tiêm cơ bản hoặc tăng khoảng cách mũi tiêm nhắc không làm giảm hiệu quả của vắc-xin. Ngược lại, giảm khoảng cách giữa các liều (nghĩa là tiêm vắc-xin sớm hơn so với lịch hẹn) có thể gây hiện tượng giao thoa giữa đáp ứng kháng thể của cơ thể đối với vắc-xin cần tiêm và kháng thể bảo vệ của những lần tiêm trước đó, sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả và tác dụng bảo vệ của thuốc chủng ngừa. Như vậy, phụ huynh cần ghi nhớ không cần tiêm vắc-xin lại từ đầu nếu lịch tiêm ngừa của trẻ bị trễ so với hẹn.

Share on Facebook37Pin on Pinterest0Share on Google+0

Comments (0)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *